Tín chấp là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Bộ luật dân sự 2015. Đây là biện pháp bảo đảm không bằng tài sản, tức là không thông qua tài sản mà chỉ thông qua uy tín để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ. Vậy tín chấp là gì? tín chấp được pháp luật quy định như thế nào, hãy theo dõi bài viết dưới đây của Luật Thái An chúng tôi để biết thông tin chi tiết.
1. Tín chấp là gì?
Mặc dù Bộ luật Dân sự 2015 không đưa ra một định nghĩa cụ thể về tín chấp nhưng có thể hiểu tín chấp là việc ai đó (tổ chức hoặc cá nhân) sử dụng uy tín của mình để bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ nào đó đối với bên hoặc các bên có quyền trong các quan hệ pháp luật dân sự.
Ví dụ trong các hợp đồng vay (hợp đồng tín dụng) thì tín chấp được hiểu là việc dùng uy tín của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với các tổ chức tín dụng cho các khoản vay đã được giao kết. Uy tín với tư cách là đối tượng của quan hệ tín chấp là tất cả những gì thuộc về nhân thân của người vay như: sự tín nhiệm của cộng đồng, phẩm chất đạo đức; đặc biệt là lịch sử tín dụng tốt và khả năng thanh toán nợ cao (ví dụ có nghề nghiệp và thu nhập ổn định).
Tín chấp có đặc điểm là:
- Không có tài sản bảo đảm;
- Dựa trên uy tín, cam kết trách nhiệm thỏa thuận bằng văn bản;
- Chủ thể của quan hệ này là những đối tượng đặc biệt
- Không thuộc trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm.
- Thường áp dụng trong các trường hợp mang tính nhân đạo, hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội.
2. Hình thức, nội dung tín chấp
Tại Điều 345 Bộ luật dân sự 2015 có quy định việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp về điều kiện, hoàn cảnh của bên vay vốn.
Thỏa thuận bảo đảm bằng tín chấp phải cụ thể về số tiền, mục đích, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp.
3. Chủ thể tham gia tín chấp
Chủ thể tham gia tín chấp bao gồm:
- Bên bản đảm bằng tín chấp: tổ chức ở xã, phường, thị trấn của Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Công đoàn cơ sở là bên bảo đảm bằng tín chấp, trừ trường hợp Điều lệ của tổ chức này quy định khác. (Căn cứ Điều 45 Nghị định 21/2021/NĐ-CP)
- Bên được tín chấp: Là người vay vốn hoặc người có nghĩa vụ dân sự, thường là cá nhân, hộ gia đình thuộc diện chính sách hoặc có hoàn cảnh khó khăn.
- Bên có quyền (bên cho vay): Là ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc cá nhân, tổ chức có quyền nhận bảo đảm nghĩa vụ.
Xem thêm: Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng
4. Quyền, nghĩa vụ của các bên trong tín chấp
Theo quy định tại Điều 46 Nghị định 21/2021/NĐ-CP thì quyền và nghĩa vụ của các bên trong tín chấp như sau:
4.1 Quyền, nghĩa vụ của Bên bảo đảm bằng tín chấp
Bên bảo đảm bằng tín chấp có quyền, nghĩa vụ:
- Chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng cho vay để giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho người vay; giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn;
- Xác nhận theo yêu cầu của tổ chức tín dụng cho vay về điều kiện, hoàn cảnh của người vay khi vay vốn;
- Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.
4.2 Quyền, nghĩa vụ của Tổ chức tín dụng cho vay
Tổ chức tín dụng cho vay có quyền, nghĩa vụ:
- Yêu cầu bên bảo đảm bằng tín chấp phối hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc trả nợ;
- Phối hợp với bên bảo đảm bằng tín chấp trong việc cho vay và thu hồi nợ;
- Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.
4.3 Quyền, nghĩa vụ của Người vay
Người vay có quyền, nghĩa vụ:
- Sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, phục vụ nhu cầu đời sống hoặc tiêu dùng phù hợp với mục đích vay;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng cho vay và bên bảo đảm bằng tín chấp kiểm tra việc sử dụng vốn vay;
- Trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay (nếu có) đúng hạn cho tổ chức tín dụng cho vay;
- Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

5. Phân biệt tín chấp và bảo lãnh
Nếu chỉ xem xét sơ bộ về mặt bản chất, thì giữa tín chấp và bảo lãnh có nhiều nét tương đồng, vì cả 2 biện pháp này cùng có các đặc điểm là:
- có sự xuất hiện của bên thứ ba,
- không bảo đảm bằng tài sản ( biện pháp đối nhân).
Tuy nhiên thực chất, hai biện pháp này có sự khác biệt rõ rệt. Cụ thể như sau:
| Tiêu chí | Bảo lãnh | Tín chấp |
| Bản chất | – Bên thứ ba ( sau đây gọi là bên bảo lãnh ) cam kết với bên có quyền ( sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh ) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( sau đây gọi là bên được bảo lãnh ), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
|
– Tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở bằng uy tính của mình bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ.
|
| Chủ thể | – Bên thứ ba (người bảo lãnh) có thể là bất cứ tổ chức, cá nhân nào
– Bên được bảo lãnh: là bất kỳ tổ chức cá nhân nào: – Bên nhận bảo lãnh: có thể là bất cứ chủ thể |
– Bên thứ 3 (Bên bảo đảm bằng tín chấp)
Chỉ các đơn vị tại cơ sở của các tổ chức chính trị xã hội sau đây là bên bảo đảm bằng tín chấp: + Hội Nông dân Việt Nam + Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam + Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh + Hội Cựu chiến binh Việt Nam + Mặt trận Tổ quốc Việt Nam + Công đoàn cơ sở – Bên được bảo đảm bằng tín chấp (bên vay): chỉ có thể là cá nhân, hộ nghèo, các đối tượng thuộc diện chính sách do Nhà nước quy định. – Bên nhận tín chấp: phải là tổ chức tín dụng, thậm chí là Ngân hàng Chính sách xã hội khi thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội có tính chất ưu đãi đối với người yếu thế (người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội khác).
|
| Về hình thức | Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Văn bản bảo lãnh phải có công chứng, chứng thực.
|
Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, ngân hang, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức bảo đảm.
|
| Quan hệ giữa các bên | – Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định.
– Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh: Bên bảo lãnh được quyền yêu cầu người được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình nếu không có thỏa thuận khác. Bên bảo lãnh phải thông báo cho bên được bảo lãnh về việc đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Bên được bảo lãnh có nghĩa vụ hoàn trả đối với bên bảo lãnh. |
– Bên bảo đảm bằng tín chấp: chỉ phải giám sát và đôn đốc bên vay thực hiện việc thanh toán, mà hầu như không gắn liền với bất cứ trách nhiệm thanh toán thay nào nếu bên vay rơi vào trường hợp mất khả năng thanh toán.
– Người vay có nghĩa vụ sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng va tổ chức chính trị xã hội kiểm tra việc sử dụng vốn vay, trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng. – Tổ chức tín dụng có quyền từ chối bảo đảm bằng tín chấp nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và trả nợ cho tổ chức tín dụng. |
Xem thêm: Quy định về bảo lãnh
Có thể thấy tín chấp là một biện pháp bảo đảm có ý nghĩa thiết thực trong việc hỗ trợ các đối tượng yếu thế tiếp cận nguồn vốn mà không cần tài sản thế chấp. Mặc dù không được quy định riêng như một chế định độc lập trong Bộ luật Dân sự 2015, tín chấp vẫn được thừa nhận và vận dụng linh hoạt trên thực tế. Tuy nhiên, để áp dụng tín chấp đúng pháp luật và hạn chế rủi ro, các bên liên quan cần nắm rõ cơ sở pháp lý và có sự tư vấn phù hợp từ các chuyên gia pháp lý
Với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực tư vấn pháp luật dân sự, thương mại, tài chính và ngân hàng, Công ty Luật Thái An tự hào là một trong những hãng luật uy tín hàng đầu tại Việt Nam, đã hỗ trợ hàng ngàn khách hàng cá nhân và doanh nghiệp trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý phức tạp liên quan đến tín chấp.
Luật Thái An cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên sâu về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, bao gồm cả tư vấn tín chấp, bảo lãnh, thế chấp, và cầm cố,…. Với đội ngũ luật sư am hiểu pháp luật và giàu kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi cam kết mang đến cho khách hàng giải pháp pháp lý tối ưu, nhanh chóng và hiệu quả.
Hãy liên hệ ngay với Luật Thái An chúng tôi để được tư vẫn, hỗ trợ kịp thời!
