Tội lây truyền HIV cho người khác thuộc nhóm tội phạm nghiêm trọng do khung hình phạt cao nhất của tội này là 7 năm tù. Với bề dầy kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật hình sự, chúng tôi sẽ trình bầy những vấn đề cơ bản nhất về tội tội lây truyền HIV cho người khác: các cấu thành tội phạm
- các khung hình phạt
- các căn cứ để toà án quyết định hình phạt cụ thể với từng người phạm tội
- các giai đoạn giải quyết vụ án và bào chữa cho bị cáo tội phạm này…
- thi hành án và giảm án
1. Cơ sở pháp lý quy định tội lây truyền HIV cho người khác là gì ?
Cơ sở pháp lý quy định trách nhiệm hình sự đối với tội tội lây truyền HIV cho người khác là Điều 148 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2. Thế nào là tội lây truyền HIV cho người khác ?
Một người bị coi là phạm tội lây truyền HIV cho người khác khi có các dấu hiệu sau đây. Các dấu hiệu này là các cấu thành tội phạm mà khi có đủ các cấu thành tội phạm này thì mới có thể kết luận người đó phạm tội.
>>> Xem thêm: Các yếu tố cấu thành tội phạm hình sự
a. Chủ thể của tội lây truyền HIV cho người khác
Chủ thể của tội phạm là tội lây truyền HIV cho người khác người từ đủ 16 tuổi trở lên. Như vậy là người dưới 16 tuổi có hành vi phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà bị xử phạt hành chính, căn cứ điều 12 Bộ luật hình sự năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2007.
b. Hành vi khi phạm tội lây truyền HIV cho người khác
Các hành vi khách quan là cố ý lây truyền HIV cho người khác khi biết mình nhiễm HIV, trừ trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục. Hành vi lây truyền là đưa HIV từ cơ thể của mình sang cơ thể người khác bằng bất kỳ hình thức gì: quan hệ tình dục, đường máu…
Một số thí dụ minh họa về hành vi phạm tội lây truyền HIV cho người khác:
-
Biết mình nhiễm HIV nhưng quan hệ tình dục không dùng biện pháp an toàn, làm đối tác bị lây.
-
Dùng chung bơm kim tiêm/ống chích với người khác dù biết mình nhiễm, dẫn đến lây.
-
Hiến máu, mô/tạng, sữa mẹ hoặc cho con bú khi biết mình nhiễm mà không khai báo/che giấu, khiến người nhận bị lây.
-
Cố ý để máu hoặc dịch cơ thể của mình tiếp xúc trực tiếp với vết thương hở/niêm mạc của người khác, làm họ bị lây.
-
Biết mình nhiễm nhưng vẫn thực hiện thủ thuật xâm lấn (xăm, xỏ, làm đẹp, chăm sóc y tế tư nhân…) bằng dụng cụ đã nhiễm và dùng cho khách hàng khác, gây lây truyền.
c. Lỗi của chủ thể tội lây truyền HIV cho người khác
Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội biết mình nhiễm HIV, biết là nếu thực hiện hành vi sẽ làm người khác bị lây nhiễm, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc để cho hậu quả xảy ra.
Nếu người thực hiện hành vi không biết mình bị nhiễm HIV thì không có lỗi.
3. Các khung hình phạt đối với tội lây truyền HIV cho người khác là gì ?
a. Khung hình phạt 1
Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người khác, trừ trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
b. Khung hình phạt 2
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Đối với người dưới 18 tuổi;
c) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;
d) Đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
4. Toà án quyết định mức hình phạt đối với người phạm tội lây truyền HIV cho người khác như thế nào?
Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 148 nêu trên, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.
a. Các tình tiết tăng nặng
Các tình tiết tăng nặng đối với tội lây truyền HIV cho người khác có thể là:
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
- Phạm tội vì động cơ đê hèn;
- Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
- Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên;
- Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội;
- Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
- Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.
và các tình tiết tăng nặng khác được quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự 2015, chi tiết có tại bài viết TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG.
b. Các tình tiết giảm nhẹ đối với tội lây truyền HIV cho người khác
Các tình tiết giảm nhẹ được quy định Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Đối với tội lây truyền HIV cho người khác, các tình tiết giảm nhẹ có thể là:
- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
- Phạm tội do lạc hậu;
- Người phạm tội là phụ nữ có thai;
- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
- Người phạm tội tự thú;
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
- Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
- Người phạm tội đầu thú
và các tình tiết tăng nặng khác được quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự 2015, chi tiết có tại bài viết CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ.
Những lưu ý quan trọng:
Khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo tội lây truyền HIV cho người khác, Toà án có thể dựa vào Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, đó là:
- Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.
- Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
- Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định nêu trên nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
c. BIẾT MÀ CHE GIẤU tội thì có bị xử phạt không?
Nếu một người biết mà che giấu người phạm tội lây truyền HIV cho người khác cùng dấu vết, tang vật của vụ án hoặc cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm, căn cứ Điều 18 Bộ luật hình sự 2015. Cụ thể, mức hình phạt che giấu tội lây truyền HIV cho người khác là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Tuy nhiên, nếu người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
d. Khi nào được loại trừ trách nhiệm hình sự đối với tội lây truyền HIV cho người khác?
Người phạm tội lây truyền HIV cho người khác không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự: Người thực hiện hành vi phạm tội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, căn cứ Điều 21 Bộ luật hình sự 2015.
đ. Có thể thay thế phạt tù bằng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với tội lây truyền HIV cho người khác không ?
Do tội lây truyền HIV cho người khác thuộc loại tội nghiêm trọng (không phải tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng) nên Toà án có thể xem xét, cân nhắc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ từ 06 tháng đến 03 năm, nếu người đó có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ Điều 36 Bộ luật hình sự 2015.
e. Nếu phạm tội lây truyền HIV cho người khác nhưng người bị hại có đơn xin không truy tố thì có bị xử phạt không ?
Đối với tội lây truyền HIV cho người khác, cho dù người bị hại có đơn xin không truy tố thì người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
f. Nếu phạm tội lây truyền HIV cho người khác và các tội khác đồng thời thì hình phạt sẽ thế nào?
Nếu phạm tội lây truyền HIV cho người khác và các tội khác đồng thời thì Toà án sẽ tổng hợp các hình phạt như sau, căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự 2015:
- Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;
- Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung;
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;
- Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
- Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.
Lưu ý quan trọng: Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù: cứ 1 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.
g. Có thể áp dụng án treo đối với người phạm tội lây truyền HIV cho người khác không ?
Căn cứ Điều 65 Bộ Luât hình sự, người phạm tội lây truyền HIV cho người khác nếu bị xử phạt tù không quá 03 năm, thì Toà án xem xét cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ.
5. Hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội lây truyền HIV cho người khác
Bị can/bị cáo dưới 18 tuổi phạm tội lây truyền HIV cho người khác được áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với người đã thành niên, tức là từ đủ 18 tuổi. Đây là những khoan hồng của pháp luật nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội làm lại cuộc đời. Những khoan hồng đó là gì, xin mời ban đọc phần sau đây:
a. Khi nào người dưới 18 tuổi phạm tội lây truyền HIV cho người khác có được miễn trách nhiệm hình sự ?
Căn cứ Điều 91 Bộ luật hình sự, người dưới 18 tuổi phạm tội lây truyền HIV cho người khác, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giáo dục tại cộng đồng.
b. Hình phạt cao nhất đối với người dưới 18 tuổi phạm tội lây truyền HIV cho người khác
Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
c. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
Nếu người dưới 18 tuổi phạm tội lây truyền HIV cho người khác đồng thời với các tội khác thì Toà án tổng hợp hình phạt như sau, căn cứ Điều 103 Bộ luật hình sự 2015:
- Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm.
- Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.
Đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:
- Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
- Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:
- Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất nêu trên;
- Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.
6. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội lây truyền HIV cho người khác là bao lâu?
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với tội lây truyền HIV cho người khác, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 10 năm kể từ khi hành vi phạm tội xẩy ra.

7. Các giai đoạn giải quyết vụ án về tội lây truyền HIV cho người khác
Vụ án về tội lây truyền HIV cho người khác được giải quyết qua nhiều giai đoạn tố tụng hình sự và luật sư có thể hỗ trợ khách hàng trong tất cả các giai đoạn đó:
a. Giai đoạn KHỞI TỐ VỤ ÁN về tội lây truyền HIV cho người khác
Khởi tố là khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra khi có căn cứ về tội phạm từ những tố giác, tin báo, kiến nghị, phát hiện…của người dân và cơ quan, tổ chức.
Cơ quan có thẩm quyền có thể là cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát nhân dân.
Xem thêm: KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ NHƯ THẾ NÀO ?
b. Giai đoạn ĐIỀU TRA VỤ ÁN tội lây truyền HIV cho người khác
Trong giai đoạn này cơ quan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm soát của Viện Kiểm sát tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ cần thiết nhằm phát hiện tội phạm, người có lỗi để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra.
Điều tra vụ án hình sự được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của cơ quan điều tra về việc đề nghị Viện Kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự.
Thời hạn điều tra vụ án về tội lây truyền HIV cho người khác là 3 tháng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
Trường hợp cần gia hạn điều tra thì có thể gia hạn hai lần, lần thứ nhất không quá 3 tháng và lần thứ hai không quá 2 tháng. Nếu thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
Trong giai đoạn điều tra, bị can có thể bị tam giam để phục vụ công tác điều tra. Thời gian tạm giam bị can tội lây truyền HIV cho người khác là 3 tháng. Thời hạn tạm giam có thể được gia hạn 1 lần không quá 2 tháng.
Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra kết luận đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra:
Xem thêm: ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
c. TRUY TỐ VỤ ÁN tội lây truyền HIV cho người khác
Có thể hiểu đơn giản truy tố hình sự là một giai đoạn trong quá trình tố tụng hình sự sau khi kết thúc giai đoạn khởi tố và điều tra.
Truy tố hình sự do Viện kiểm sát thực hiện nhằm đưa người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử hoặc đưa ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết vụ án hình sự, ví dụ như quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.
Đối với tội lây truyền HIV cho người khác, Viện kiểm sát sẽ có quyết định truy tố trước Toà án, hoặc trả hồ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ/tạm đình chỉ vụ án, bị can, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra.
Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày.
Xem thêm: TRUY TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
d. Giai đoạn XÉT XỬ VỤ ÁN về tội lây truyền HIV cho người khác
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu là hoạt động xét xử vụ án hình sự ở cấp đầu tiên nhằm xem xét đánh giá toàn diện các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hình sự trên cơ sở đó ra bản án, quyết định có hành vi phạm tội hay không, người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong vụ án. Cụ thể là:
- Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
- Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.
Đối với vụ án về tội lây truyền HIV cho người khác, Toà án sẽ ra đưa ra một trong các quyết định như trên trong vòng 45 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án sẽ mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.
Xem thêm: XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
e. KHÁNG CÁO bản án ?
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay:
- Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong vòng 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
Nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án mới có hiệu lực pháp luật.
Xem thêm: KHÁNG CÁO VỤ ÁN HÌNH SỰ
8. Thi hành án đối với tội lây truyền HIV cho người khác
a. Thời hiệu thi hành bản án tội lây truyền HIV cho người khác
Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn mà khi hết thời hạn đó người bị kết án bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.
Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với tội lây truyền HIV cho người khác là 10 năm.
b. Miễn chấp hành hình phạt tội lây truyền HIV cho người khác
Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.
Người bị kết án tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Sau khi bị kết án đã lập công;
- Mắc bệnh hiểm nghèo;
- Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
c. Giảm mức hình phạt đã tuyên
Người bị kết án nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.
Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn phạt tù.
Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên.
Người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức quy định trên.
d. Tha tù trước thời hạn có điều kiện
Người bị kết tội về tội lây truyền HIV cho người khác đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Phạm tội lần đầu;
- Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
- Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù;
- Có nơi cư trú rõ ràng;
- Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức thời hạn tù. Trường hợp người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì thời gian đã chấp hành ít nhất là một phần ba hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn;
- Không thuộc trường hợp bị kết án từ 10 năm tù trở lên
đ. Hoãn chấp hành hình phạt tù
Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:
- Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
- Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm
9. Luật sư bào chữa tội lây truyền HIV cho người khác và dịch vụ của Công ty Luật Thái An
Khi có căn cứ, luật sư có thể bào chữa tội lây truyền HIV cho người khác theo một trong ba hướng:
- Hướng bào chữa bị can không có tội: Để làm được việc này thì cần phải có những căn cứ nhất định và luật sư cần “bám chặt” vào các căn cứ này để khai thác, tìm chứng cứ, thu thập chứng cứ ở mức tối đa.
- Hướng bào chữa giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Luật sư sẽ sử dụng những bằng chứng, căn cứ pháp lý để đề nghị Hội đồng xét xử chuyển sang tội danh nhẹ hơn hoặc khung hình phạt nhẹ hơn hoặc giảm nhẹ hình phạt.
- Hướng bào chữa trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Luật sư tìm căn cứ để để yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung, yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ khi thuộc một trong các trường hợp theo quy định.
Chi tiết có tại: CÁC HƯỚNG BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO
Sử dụng dịch vụ luật sư bào chữa tội lây truyền HIV cho người khác là sự lựa chọn rất khôn ngoan.
Với bề dầy kinh nghiệm tham gia các vụ án hình sự cùng sự tận tâm, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, các luật sư Công ty Luật Thái An sẽ tham gia tố tụng với tư cách luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo. Chúng tôi sẽ giúp:
- Bảo đảm tính khách quan của việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
- Luật sư là chỗ dựa tinh thần, trấn an tâm lý cho người bị buộc tội, đưa ra những lời khuyên có lợi cho người bị buộc tội
- Luật sư thực hiện việc bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
- Góp phần xác định sự thật của vụ án, đảm bảo vụ án được giải quyết khách quan, toàn diện, đúng quy định pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội
- Giúp thân chủ tiết kiệm được thời gian đi lại, chi phí và công sức mà vụ án vẫn được giải quyết một cách nhanh chóng, chính xác, đảm bảo tối đa các quyền lợi cho thân chủ.
>>> Xem thêm:
